dau lung khi mang thai dau xuong khop la gi nguyen nhan thoai hoa khop goi thoat vi dia dem cot song that lung nguyen nhan dau khop goi nam lim xanh sam ngoc linh quan jean nam ao so mi nam ao thun nam pa lang cap dien may nen khi may nen khi puma benh dau lung dau xuong khop thoai hoa khop goi thoat vi dia dem dau khop goi

 
 
 
Nghiên cứu khoa học
 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ LINH TRƯỞNG Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHONG ĐIỀN

Pygathrix nemaeus Mọi người đều nhận thức được việc săn bắt các loài động vật hoang dã là trái phép nhưng do việc thực thi pháp luật chưa có hiệu quả cao và việc quản lý các hoạt động săn bắt và buôn bán động vật hoang dã còn lỏng lẻo nên người dân vẫn tiếp tục săn bắt động vật hoang dã.

Nhận xét chung:

Do ảnh hưởng của chiến tranh như chất độc hoá học và bom đạn và các hoạt động xâm hại nguồn tài nguyên rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền như các hoạt động bẫy bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ và lâm sản, khai thác vàng sa khoáng hiện đang diễn ra phổ biến trong khu vực nên khu hệ thú đã bị suy giảm nghiêm trọng, tần suất quan sát và bắt gặp dấu vết của các loài rất thấp. Tuy nhiên, khu hệ Linh Trưởng của khu bảo tồn hiện có thành phần khá phong phú, đã có ghi nhận trực tiếp và gián tiếp 8 loài trong khu vực.

 

Các loài Linh trưởng ở Khu BTTN Phong Điền:

 

Chà vá chân đỏ (Pygathrx nemaeus)

 

Ở Việt Nam, Chà vá chân đỏ có phân bố từ 190 2 B (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát ) tới 140 33 B (Khu vực Kon Hà Nừng) (Fooden, 1996: Lippold and Vu Ngoc Thanh, 2001). Hiện nay, loài này có tên trong nhóm I B của Nghị định 48/HĐBT, Phụ lục I của CITES; và được xếp cấp E – Nguy cấp – trong sách đỏ Việt Nam (Bộ KHCN & MT, 2000), cấp EN – Nguy cấp – trong danh sách đỏ IUCN (Hilton-Taylor, 2002: http://www.redlist.org).

Ở khu BTTN Phong Điền, thông tin phỏng vấn cho biết oài này hiện còn phổ biến trong các khu rừng nguyên sinh như các tiểu khu 892, 893, 894, 903, 904, khu vực Bàu Cát, Tam Dân, Đồi Dù, Cô Tiên. Tuy nhiên, trước khi súng bắn bị tịch thu trong khu vực (từ cuối năm 2002), loài này đã từng bị săn bắn phổ biến. Trong năm 2002, 6 cá thể loài này đã bị bắn (Nguyễn Văn M, bản Khe Trăn, xã Phong Mỹ, thông tin cá nhân,2003) . Theo thông tin phỏng vấn, quần thể loài trong khi vực có khoảng 50 cá thể, không rõ số bầy. Tuy nhiên loài này hiện khá dạn người, ở một số khu vực , nếu không có biện pháp quản lý súng tốt thì chúng rất dễ bị tiêu diệt.

      Trong quá trình điều tra thực địa, không có quan sát trực tiếp, chỉ có ghi nhận một số tiếng kêu vào buổi sáng những ngày nắng đẹp.

      Hiện nay, loài này không bị đe doạ trực tiếp do săn bắt, nhưng đang đứng trước nguy cơ bị đe doạ do mất sinh cảnh bởi nạn khai thác goõ, lâm sản và vàng sa khoáng đang ngày càng gia tăng trong khu vực.

 

Voọc bạc / xám ( Trachypithecus/phayrei)

 

Ở Việt Nam, Voọc bạc có vùng phân bố ở phía nam và Nam trung Bộ và loài Voọc xám có vùng phân bố ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ (Fooden, 1996). Hiện nay cả hai loại này đều có tên trong nhóm IB của Nghị định 48/HĐBT, phụ lục I, của CITES và được xếp ở cấp V- Sắp nguy cấp- trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ KHCN& MT, 2000), cấp VU-Sắp nguy cấp –trong  sách đỏ IUCN(Hilton-Taylor, 2002: http://www.redlist.org)

      Các thông tin phỏng vấn thu được trong quá trình nghiên cứu có mô tả về một loài linh trưởng có lông màu xám bạc, đuôi dài . Các thông tin này không đủ cho việc định loại chính xác trong khu vực hiện có loài nào Voọc bạc hay Voọc xám?

      Trong quá trình khảo sát thực tế, đã có quan sát nhanh một bầy Voọc, không rõ số lượng . Ít nhất đã có quan sát rõ ràng về màu lông và hình dạng một cá thể của bầy này, tuy nhiên do thời gian quan sát quá ngắn nên không thể định loại được chính xác chúng là loài nào. Bước đầu, xác định về sự tồn tại của một trong hai loài này trong khu vực nghiên cứu.

      Theo các ghi nhận về phân bố từ trước đến nay loài Voọc bạc đã được ghi nhận từ Quảng Trị tại 16037 vĩ độ Bắc tới vùng châu thổ sông Mê Kông. Sự hiện diện của loài này xa về phía Bắc tại huyện Tuyên Hoá (tỉnh Quãng Bình) đang cần được xem xét(Fooden,1996).

      Bên cạnh đó, loài Voọc xám (T.phayrei) có vùng phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt nam (Fooden,1996). Chỉ có hai ghi nhận loài này xa nhất về phía nam ở Tuyên Hoá (Quãng Bình) (mẫu sọ số IEBR 4, dẫn theo Fooden,1996)  và Kon Cha Rang (Gia Lai) (Lippold,1995). Do đó có thể nói , Khu BTTN Phong Điền nằm trong vùng phân bố của cả hai loài Voọc xám và Voọc Bạc. Như vậy rấy cần có thêm các cuộc điều tra , nghiên cứu khác nhằm xác định sự có mặt của loài này, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cớu phân bố địa lý của loài.

Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides)

Ở Việt nam, Khỉ mặt đỏ phân bố rộng khắp ở các khu rừng Việt Nam (Fooden,1996).

Loài này có tên trong Nhóm IB của Nghị định 48/HĐBT, phụ lục I của CITES; và đươc xếp ở cấp V- Sắp nguy cấp-trong sách đỏ Việt Nam( Bộ KHCN&MT, 2000), cấp VU-sẽ nguy cấp –trong Danh sách đỏ IUCN( Hilton-Taylor,2002,http://www.redlist.org:)

Thông tin phỏng vấn cho biết loài này phân bố rộng trong khu vực, số lượng ít hơn các loài khác, bị bẫy bát nhiều do đây là loài có kích thước lớn . Đây là loài thú linh trưởng hiện phổ biến và còn có số lượng lớn nhất trong khu vực . Trong tất cả các khu vực điều tra , thông tin từ phỏng vấn và mẫu về loài đều đã có ghi nhận.

Mặc dù thông tin về loài này trong khu vực co số lượng nhiếu nhưng với những gì thu được cho thấy loài này hiện đang trong tình trạng bị suy giảm nghiệm trọng do chúng dễ bị bẫy bắt vì tập tính hoạt động kiếm ăn trên mặt đất. Nếu khôngcó những biện pháp bảo tồn thích hợp loài này sẽ bị diệt vong trong khu vực và trong tương lai không xa.

Khỉ đuôi lợn;(Macaca leonina)

Ở Việt Nam , Khỉ đuôi lợn có phân bố 16028 tới 110vĩ độ Bắc (Fooden,1996) .Loài này có tên trong Nhóm IV của Nghị định 48/HĐBT, Phụ lục I của CITES và được xếp ở cấp V-sắp nguy cấp-trong sách đỏ việt nam(Bộ KHCN& MT,2000), cấp VU-Sẽ nguy cấp-trong Danh sách đỏ IUCN( Hilton-Taylor,2002,http://www.redlist.org.

Còn tương đối phổ biến . Do tập tính kiếm ăn ít khi xuống đất nên ít bị đe doạ bởi hoạt động bẫy, bắt đang phổ biến trong toàn khu vực.

Khỉ đuôi dài:(Macaca fascicularis)

Loài này có phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Việt nam, có phân bố rộng khắp ở các khu rừng Việt Nam(Fooden,19960). Loài này có tên trong nhóm IB của Nghị định 48/HĐBT, phụ lục I của CITES , và được xếp vào cấp V-Sắp nguy cấp- trong sách đỏ Việt nam (Bộ KHCN & MT, 2000), cấp VU- sẽ nguy cấp- trong sách đỏ  IUCN ( Hilton-Taylor, 2002, http://www.redlist.org).

Hiện có các sinh cảnh gần các nguồn nước như thượng nguồn sông Bồ và các suối lớn.  Số lượng trung bình , ít bị đe doạ do bẫy bắt, do sinh cảnh sống của loài này thường không phải là những khu vực có nhiều loài thú hoạt động trên măth đất sinh sống nên ít bị đặt bẫy hơn.

Khỉ vàng (Macaca mulatta)

Đây là loài có vùng phân bố rộng ở khắp các khu rừng  ở Việt Nam. Tuy nhiên  thông tin từ phỏng vấn cho biết trong khu vực nghiên cứu loài này hiện rất hiếm. Không có ghi nhận nào trong quá trình điều tra thực địa.

Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

Loài này có phân bố rộng ở Việt Nam(Fooden, 1996).  Loài này có tên trong Nhóm IB của Nghị định 48/HĐBT, Phụ lục I của CITES và được xếp ở cấp V-Sắp nguy cấp-trong sách đỏ Việt Nam(Bộ KHCN& MT,2000), cấp VU-Sẽ nguy cấp-trong Danh sách đỏ IUCN( Hilton-Taylor,2002,http://www.redlist.org.

Chỉ thu được thông tin từ phỏng vấn, hiếm gặp trong khu vực . Không có ghi nhận trong đợt khảo sát này. Tuy vậy, loài này đã và đang bị đe doạ do tình trạng buôn bán. Ví dụ: Tháng 2/2003 một cá thể đã bị bắt ở gần bản Hạ Long, xã phong Mỹ và sau đó các thể này bị bán với giá 20.000 đồng, ngày 3/4/2003 Hạt kiểm lâm nhận một con Culi nhỏ từ dân sau khi chụp ảnh, đo đạc đã thả vào rừng.

Vượn đen má trắng ( Nomascus leucogenys ssp.)

Thông tin phỏng vấn cho biết về sự có mặt của một bầy vượn(3 con) trong khu vực Đồi chín mỏm. Ông Trần Ngọc Kỳ - một người địa phương dẫn đường –cho biết khoảng tháng 8/2002 (âm lịch) có nghe tiếng kêu khi lấy mây ở trong khu vực nghiên cứu, và ông Kỳ cũng cho biết chỉ có phát hiện về bầy này kể từ năm 2002, ông cho rằng trước đó bầy này sinh sống ở phái đường 15 n. Theo ông Hoàng Thái Dũng (bản Hạ Long) đã nhìn thấy một bầy 3 con trong cùng khu vực.

Trong quá trình khảo sát, ghi nhận qua 3 tiếng hót của một bầy lúc 6.30-6.52 ngày 27/3/2003 ở khu vực giữa Khe Đòn Mười và Khe Vờn-Khu vực rừng Chín Mỏm và có ghi âm được tiếng hót của chúng. Khu vực này cũng nằm trong vùng phân bố của hai phân loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys ) và Vượn Siki( Nomascus leucogenys Siki) (Fooden, 1996; Geissmann et al., 2001). Do chỉ ghi nhận được chúng qua tiếng hót và chưa có phân tích , so sánh tiếng hót của chúng bằng phương pháp âm học so sánh (Geissmann et al., 2000) nên chưa thể định loại chính xác  được phân loài nào hiện đang tồn tại trong khu vực . Do vậy cần có thêm các phân tích tiếng kêu ghi âm và các cuộc điều tra thực địa nhằm xác định loại chính xác phân loại nào và trình trạng của chúng trong khu vực nhằm góp phần vào công việc bảo tồn các loài Vượn ở Khu BTTN Phong Điền cùng như ở Việt nam.

Kết luận:

Với 8 loài linh trưởng đã ghi nhận được khu BTTN Phong Điền chiếm 32%(8/25) số loài và phân loài linh trưởng ở Việt Nam. Đặc biệt khu vực là hiện đang lưu giữ một số loài linh trưởng quý hiếm như Chà vá chân đỏ (Pygathrix nemaeus), Vượn đen má trắng (Nomascus leucogeoys ssp.). So sánh về số loài của khu hệ linh trưởng ở một số khu đặc dụng như Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, vườn Quốc gia Bạch Mã, Khu BTTN Sông Thanh, Bà nà –Núi chúa, cho thấy khu hệ linh trưởng ử Khu BTTN Phong Điền có mức độ đa dạng không thua kém so với ngưng xkhu vực kể trên, được coi là những trung tâm đa dạng linh trưởng của Việt nam.

Bảng 1. So sánh mức độ đa dạng khu hệ linh trưởng của một số khu vực

STT

Khu vực

Số loài

% so với cả nước

1

Khu BTTN Phong Điền

8

32(8/25)

2

VQG Phong Nha-Kẻ Bàng

10

40(10/25)

3

VQG Bạch Mã

9

36(8/25)

4

Khu BTTN Sông Thanh

10

40(10/25)

5

Khu BTTN Bà Nà-Núi Chúa

8

32(8/25)

 Lê Ngọc Tuấn

( Nguồn : Kết quả điều tra linh trưởng ở khu BTTN Phong Điền - Vũ Ngọc Thành - tháng 4-2003)

 


 

 
Tìm kiếm
Liên kết website
 

Văn bản quy phạm pháp luật

TRƯNG CẦU Ý KIẾN
Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Rất đẹp
Đẹp
Bình thường
Xấu
BIỂU QUYẾT

Thống kê truy cập
  lượt đã truy cập
  Người đang truy cập

Bản quyền thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền
Địa chỉ: xã Phong An, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế
Điện thoại: (84-54) 3561646 ; Fax: (84-54) 3561646 ; Email galoilam_kbt@yahoo.com